Quy Hoạch Kế Hoạch
Thứ 2, Ngày 18/01/2016, 16:00
“Ngành xây dựng tỉnh Bình Dương – 20 năm tăng cường hiệu lực quản lý hướng đến một Bình Dương đô thị và công nghiệp hiện đại”
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
18/01/2016
Hai mươi năm tăng cường hiệu lực quản lý hướng đến một Bình Dương đô thị và công nghiệp hiện đại

Sau khi được tái lập vào năm 1997, Tỉnh Bình Dương gồm có 7 đơn vị hành chính gồm: Thị xã Thủ Dầu Một là đơn vị hành chính Tỉnh lỵ và 6 huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo. Trong quá trình xây dựng và phát triển, để bảo đảm tính bền vững đòi hỏi phải có quy hoạch định hướng, tỉnh Bình Dương được xác định ngay từ đầu là một tỉnh công nghiệp gắn với dịch vụ và đô thị. Mô hình công nghiệp gắn dịch vụ và đô thị là một bước đột phá tại thời điểm đó với mục tiêu nhằm phát triển hài hòa và cân đối giữa đầu tư phát triển công nghiệp với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo đảm môi trường sinh thái và giải quyết các vấn đề xã hội do nhu cầu rất lớn về lao động của ngành công nghiệp (nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng công nghiệp và phát triển đô thị). Có thể nói các vấn đề trên là tiền đề rất quan trọng cho quá trình đô thị hóa gắn liền công nghiệp hóa ở Bình Dương, xuất phát từ tình hình đó Bình Dương cũng đã tập trung rà soát, điều chỉnh và lập các loại quy hoạch mà nhất là quy hoạch xây dựng, từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết làm cơ sở để đầu tư và quản lý trong lĩnh vực xây dựng. Đô thị Bình Dương từng bước và ngày càng phát triển theo hướng tốt hơn, cho đến nay công tác xây dựng và phát triển đô thị đã từng bước đi vào ổn định, đáp ứng yêu cầu để xây dựng kế hoạch và triển khai các dự án đầu tư, chỉnh trang, phát triển đô thị, quản lý trật tự xây dựng đô thị và nông thôn. Không gian đô thị được phát triển đồng đều với mô hình đô thị trung tâm là khu vực phía Nam và chùm đô thị vệ tinh phía Bắc được liên kết chặt chẽ với nhau trên nguyên tắc “một đô thị ba chiến lược phát triển kết nối với hành lang xanh”. Tỷ lệ đô thị hóa đến nay đạt trên 76,8%, các đô thị từng bước phát triển: mở rộng về quy mô, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội đồng bộ, hiện đại, diện mạo đô thị đã có nhiều thay đổi, chất lượng đô thị ngày càng được nâng cao.

Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 1,8 triệu người với 9 đơn vị hành chính cấp huyện: Thủ Dầu Một là thành phố thuộc tỉnh, Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát trở thành thị xã, thành lập mới 02 đơn vị hành chính cấp huyện theo quy hoạch là huyện Bàu Bàng và Bắc Tân Uyên kết hợp 2 huyện hiện hữu là Dầu Tiếng và Phú Giáo; Về nâng cấp đô thị: Thủ Dầu Một là đô thị loại II, Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên là đô thị loại IV (riêng Thuận An, Dĩ An cơ bản đạt tiêu chí đô thị loại III – đang chuẩn bị thủ tục nâng cấp theo lộ trình) và 04 đô thị loại V là Phú Giáo, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên. Bên cạnh đó, đô thị mới tại phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một đang từng bước hình thành với việc khánh thành đưa vào hoạt động của Trung tâm chính trị - hành chánh tập trung và nhiều công trình hạ tầng đô thị có tính chất tạo lực từng bước hoàn thành. Các cơ sở công nghiệp đã được bố trí theo quy hoạch khu công nghiệp tập trung với định hướng chuyển dần về phía Bắc, chấm dứt việc xây dựng các nhà máy gây ô nhiễm xen kẽ trong khu dân cư. Không gian du lịch – nghĩ dưỡng đã được hình theo hai hành lang phía Tây gắn với sông Sài Gòn, hồ Dầu Tiếng, hành lang phía Đông gắn với sông Đồng Nai – Sông Bé – Chiến khu Đ và không gian du lịch – giải trí bên trong các trung tâm đô thị.


TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÔ THỊ THỜI GIAN QUA

Từ khi Đảng và Nhà nước có chủ trương đổi mới, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh năm 1997, Bình Dương xác định phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tỉnh đã mạnh dạng đề ra nhiều chủ trương, biện pháp mới trong quá trình phát triển, đặc biệt công tác quy hoạch xây dựng được quan tâm thực hiện như: Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn; quy hoạch phát triển công nghiệp; quy hoạch chung xây dựng đô thị thị xã Thủ Dầu Một và các Thị trấn; quy hoạch chi tiết xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư – dịch vụ - văn hóa – du lịch ….nhằm tạo ra cơ sở pháp lý để đầu tư phát triển kinh tế và phát triển đô thị. Bên cạnh đó, với điểm xuất phát là vùng đất nông nghiệp, để phát triển công nghiệp, Bình Dương xác định, trước tiên phải xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó để thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh, nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội được tập trung đầu tư, một số khu dân cư được chỉnh trang và hình thành các khu dân cư và đô thị mới, đặc biệt là khu vực phía Nam của Tỉnh, đây là vùng dân cư tập trung đông, gần sân bay, bến cảng, giao thông thuận lợi, vùng đã phát triển khá nhiều khu, cụm công nghiệp và các cơ sở dịch vụ.

Về hạ tầng kỹ thuật, Tỉnh đã tập trung đầu tư cải tạo, nâng cấp mở rộng đường quốc lộ 13, các tuyến đường tỉnh, một số tuyến đường huyện, liên xã, xã cùng với các tuyến đường trong các khu, cụm công nghiệp, khu dân cư đã đảm bảo thông suốt trong địa bàn tỉnh và kết nối với hệ thống giao thông các tỉnh, thành trong khu vực; Các tuyến đường giao thông đô thị được đầu tư xây dựng tương đối đồng bộ với hệ thống thoát nước, vĩa hè, cây xanh, chiếu sáng đô thị; các nhà máy nước mặt được đầu tư xây dựng cơ bản đáp ứng đủ cho sản xuất và sinh hoạt; Hệ thống thoát nước mưa cho các khu dân cư đô thị, khu và cụm công nghiệp được đầu tư, tất cả các khu công nghiệp đều được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải chung; suối, rạch đô thị được nạo vét, kè, làm đường dọc; Hệ thống trạm, đường dây và nâng công suất điện trên địa bàn, đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng đang tăng nhanh.

 Về hạ tầng xã hội, tại các trung tâm thị xã, thị trấn và các khu công nghiệp, khu dân cư hệ thống các công trình phúc lợi được quan tâm đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước và vốn của các thành phần kinh tế như chương trình lầu hóa, chuẩn hóa các trường mẫu giáo, phổ thông; các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề bước đầu được hình thành và phát triển góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho Tỉnh; Hệ thống khám và điều trị bệnh từ tuyến xã đến huyện và tỉnh được chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị, cơ sở y tế tư nhân ngày càng mở rộng, góp phần thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Các công trình văn hóa, thể thao được quan tâm đầu tư phục vụ cho nhu cầu đời sống văn hóa, rèn luyện sức khỏe của người dân.Nhìn chung, trong thời kỳ này cùng với sự phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh, nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội được đầu tư xây dựng, một số khu dân cư được chỉnh trang và hình thành các khu dân cư mới góp phần thay đổi diện mạo đô thị của Bình Dương. Tuy nhiên, quá trình phát triển đô thị của Bình Dương chưa được thực hiện một cách đồng bộ, còn nhiều bất cập như: hệ thống các quy hoạch xây dựng chưa đủ và đồng bộ (so với yêu cầu về quy hoạch xây dựng chỉ mới đạt 28%), các đồ án quy hoạch chất lượng còn kém, tính dự báo thấp, lạc hậu nhanh so với thực tiển kinh tế - xã hội, chậm được điều chỉnh bổ sung; chậm lập quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị ở các thị xã, thị trấn và các khu vực có tốc độ đô thị hóa caolàm ảnh hưởng đến việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; việc công khai, công bố các đồ án quy hoạch xây dựng chưa rộng rãi; một số khu dân cư hình thành theo phương thức bán nền cho dân tự xây dựng chưa quản lý tốt, phần lớn nhà trọ cho thuê do các hộ dân tự xây không bảo đảm điều kiện tối thiểu. Nhìn chung, đến cuối thời kỳ này, vào năm 2006 một số chỉ tiêu về phát triển đô thị còn ở mức thấp so với bình quân cả nước: Tỷ lệ đô thị hóa phía Nam đạt 35%, phía Bắc đạt 17% so với mức bình quân cả nước là 30%, vườn hoa công viên công cộng ít, chưa có quảng trường, vĩa hè nhỏ, cây xanh ven đường đơn điệu, bãi đậu xe, nhà vệ sinh công cộng và đất cho công trình xây dựng ngầm chưa được quy hoạch; nước thải sinh hoạt đô thị chưa được thu gom và xử lý. Nguyên nhân cơ bản của hạn chế yếu, yếu kém trong công tác xây dựng và phát triển đô thị trong thời kỳ này là do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch xây dựng, quản lý đô thị ban hành chậm, thiếu đồng bộ, đô thị Bình Dương có xuất phát điểm thấp, tốc độ tăng trưởng công nghiệp quá nhanh dẫn đến nhiều bất cập trong phát triển đô thị; chưa thật sự tập trung lập, phê duyệt và điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch xây dựng; đội ngũ cán bộ quản lý quy hoạch xây dựng, quản lý đô thị còn yếu và thiếu; công tác thanh tra, kiểm tra về thực hiện quy hoạch xây dựng chưa thường xuyên và thiếu kiên quyết trong xử lý

Giai đoạn 2006 – 2011, Tỉnh Ủy tổng kết Nghị Quyết số 47-NQ/TU, ban hành Nghị Quyết số 66-NQ/TU về xây dựng và phát triển đô thị Thủ Dầu Một giai đoạn 2006-2010, quan tâm chỉ đạo việc xây dựng lộ trình và lập các thủ tục để nâng cấp các đô thị trong tỉnh, đây là thời kỳ tập trung đầu tư theo hướng huy động nhiều nguồn vốn vừa cải tạo, nâng cấp, vừa xây dựng mới, kết nối các đô thị trong tỉnh tạo ra bước đột phá về kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng văn minh, hiện đại và tiên tiến đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội toàn diện trên địa bàn. Ngân sách ưu tiên đầu tư thực hiện các kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để cải tạo, chỉnh trang các đô thị củ, các công trình kỹ thuật mang tính liên huyện, liên xã, ngoài khu công nghiệp, khu dân cư. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước, ngoài nước tham gia đầu tư phát triển đô thị như: đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, khu dân cư, khu dịch vụ - du lịch – thương mại, xử lý môi trường, nhà ở xã hội, trường học, bệnh viện…. Sắp xếp củng cố về tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về đô thị từ tỉnh đến cấp huyện, xã nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, trật tự đô thị, văn minh đô thị trong quá trình phát triển.

Do vậy, thời kỳ này việc đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh đạt được những thành tựu quan trọng, tạo điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, giao thông, điện, cấp, thoát nước, xử lý chất thải, giáo dục, y tế, dạy nghề,... cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Tỉnh đã huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng quan trọng với nhiều hình thức như BOT, BT và vận động tốt sự tham gia, đóng góp của nhân dân vào phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn. Nguồn vốn đầu tư của ngân sách tỉnh chủ yếu bố trí đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, trọng điểm, quan trọng không có khả năng huy động được các nguồn lực xã hội.

Việc đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được đồng bộ, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Hệ thống hạ tầng giao thông được tập trung đầu tư kết nối vùng phát triển công nghiệp và đô thị trong tỉnh. Các trục đường giao thông hướng ngoại đã được tỉnh chủ động đầu tư theo quy hoạch, kết nối với các tỉnh, thành lân cận trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hệ thống giao thông đô thị từng bước đầu tư hoàn chỉnh. Giao thông nông thôn được xây dựng theo quy chuẩn hoá, nhựa hoá và bê tông hoá. Hệ thống giao thông nhìn chung được đầu tư cơ bản đúng hướng, đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hoá và đi lại của nhân dân.Hệ thống hạ tầng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và hạ tầng thương mại - dịch vụ từng bước hình thành theo hướng hiện đại. Hạ tầng cấp, thoát nước được đầu tư. Hệ thống đường dây tải điện, trạm biến áp được cải tạo, xây dựng mới nâng cao chất lượng cấp điện phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Cơ sở vật chất giáo dục được đầu tư theo hướng chuẩn hoá, gắn với lầu hóa, đáp ứng tốt cho nhu cầu dạy và học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Đã tập trung đầu tư tuyến y tế cơ sở, nhất là vùng phát triển công nghiệp. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị ngành y tế từ tuyến tỉnh đến cơ sở đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân.

Nhìn chung, công tác quy hoạch xây dựng đô thị - nông thôn, quy hoạch các khu chức năng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, các đô thị trong tỉnh đều có quy hoạch chung xây dựng được phê duyệt; các quy hoạch phân khu và quy hoạch xây dựng nông thôn đang được triển khai ở các đô thị và một số xã; các khu chức năng (khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu văn hoá – du lịch thể thao, khu nhà ở…) đều có quy hoạch chi tiết.Tổng số các quy hoạch đô thị được phê duyệt gồm 16 đồ án quy hoạch chung, 10 đồ án quy hoạch chi tiết trung tâm xã, 112 đồ án khu nhà ở, khu đô thị mới có quy mô từ 5 ha trở lên với diện tích quy hoạch là 6.253ha. Đã thực hiện định hướng phát triển đô thị Bình Dương theo hình thái vùng đô thị Nam Bình Dương và khu vực nông thôn phía Bắc, tổng diện tích đất đô thị chiếm khoảng 13,39% diện tích tự nhiên của tỉnh.Toàn tỉnh Bình Dương có 3 thị xã (Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ An) và 6 thị trấn, 25 phường, 60 xã. Tỉ lệ đô thị hoá đạt 65,1 %. Không gian công nghiệp – đô thị đã được hình thành theo hành lang Bắc Nam giữa 2 trục giao thông Đại lộ Bình Dương và đường Sóng Thần – ĐT 747. Các đô thị được xác định theo 3 hình thức: Đô thị cũ, đô thị mới và đô thị cải tạo kết hợp cũ và mới để có giải pháp quy hoạch phù hợp. Đô thị mới tại phường Hòa Phú, thị xã Thủ Dầu Một có quy mô trên 1000 ha đang từng bước hình thành với việc khởi công Trung tâm chính trị - hành chính tập trung và các công trình có tính chất tạo lực như: Trường Đại học quốc tế Miền Đông, sân Golf Tân Thành, các công trình dịch vụ, nhà ở cao cấp…Các cơ sở công nghiệp đã được bố trí theo quy hoạch khu công nghiệp tập trung với định hướng chuyển dần về phía Bắc, chấm dứt việc xây dựng các nhà máy gây ô nhiễm xen kẽ trong khu dân cư. Công tác phát triển đô thị trong thời kỳ này đã đạt được một số thành tựu nhất định, không gian đô thị Bình Dương từng bước được hình thành theo hướng văn minh, hiện đại, đồng bộ về kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.. Đô thị Thủ Dầu Một được tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo sự lan tỏa các đô thị lân cận và rút kinh nghiệm chỉ đạo phát triển đô thị toàn tỉnh.

Tuy nhiên, việc phát triển đô thị Bình Dương vẫn còn một số hạn chế như sau: Một số chương trình, công trình trọng điểm về phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ đô thị triển khai chậm, thiếu đồng bộ. Năng lực quản lý đô thị, quản lý đầu tư xây dựng các khu đô thị, khu nhà ở thương mại còn yếu kém. Việc triển khai lập quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng nông thôn chưa tập trung, một số đồ án quy hoạch có chất lượng thấp, tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu còn thấp; thiếu thiết kế đô thị. Tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý còn cao. Tiến độ đầu tư các dự án bất động sản chậm. Các dự án nhà ở công nhân và người có thu nhập thấp đã đăng ký nhưng rất ít triển khai do chính sách chưa thật sự khuyến khích.

Nguyên nhân của những hạn chế nói trên:Sự phối hợp giữa Sở ngành và huyện, thị xã chưa được chặt chẽ trong tổ chức triển khai, quản lý, kiểm tra trong việc thực hiện quy hoạch; trong triển khai một số công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình hạ tầng xã hội.

Về khách quan, do suy thoái kinh tế toàn cầu, các quy định chồng chéo của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình thu hút đầu tư và tiến độ các dự án phát triển đô thị, công trình xây dựng.

Giai đoạn 2011 đến nay, công tác quy hoạch xây dựng đô thị - nông thôn, quy hoạch phân khu chức năng, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đô thị Thủ Dầu Một đến năm 2020 đã được phê duyệt tạo tiền đề định hướng phát triển đô thị Bình Dương. Trên cơ sở đó, các đô thị trên địa bàn tỉnh Bình Dương cơ bản đã được lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch, bao gồm; Quy hoạch chung: 5 đô thị trung tâm (Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên) và 6/9 đô thị vệ tinh (Bàu Bàng, Tân Thành, Dầu Tiếng, Long Hòa, Minh Hòa, Bến Súc, Phước Vĩnh); Quy hoạch phân khu: 28/41 phường (năm 2014); Quy hoạch chi tiết: 05 đồ án quy hoạch Trung tâm hành chính và các khu chức năng (khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu văn hóa – du lịch thể dục thể thao …) đều có quy hoạch chi tiết; Quy hoạch xã nông thôn mới 48/48 xã. Các đồ án quy hoạch xây dựng đáp ứng yêu cầu để xây dựng kế hoạch và triển khai các dự án đầu tư, chỉnh trang, phát triển đô thị, quản lý trật tự xây dựng đô thị và nông thôn, thu hút các dự án đầu tư góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội.

Trong quá trình phát triển và xây dựng đô thị Bình Dương, điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội từng bước được nâng lên. Công tác đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh, tạo điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, nông thôn….cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng quan trọng với nhiều hình thức BOT, BT…và vận động tốt sự tham gia đóng góp của nhân dân vào phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn. Hiện nay về cơ bản, đô thị Bình Dương có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đạt nền tảng của đô thị loại I (xem phụ lục).

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo “Kết cấu hạ tầng giao thông đi trước mở đường” nên hệ thống hạ tầng giao thông thiết yếu được tập trung đầu tư kết nối các vùng phát triển công nghiệp và đô thị. Giao thông hướng ngoại, kết nối với các tỉnh, thành lân cận trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kết nối giữa đô thị trung tâm và các đô thị trong tỉnh được chủ động đầu tư theo quy hoạch và cơ bản hoàn thành các tuyến đường: Mỹ Phước – Tân Vạn, Phạm Ngọc Thạch, Cầu Phú Long …; hệ thống giao thông nội thị từng bước đầu tư, chỉnh trang đồng bộ; giao thông nông thôn được xây dựng theo quy chuẩn hóa, nhựa và bê tông hóa.Hệ thống hạ tầng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và hạ tầng thương mại – dịch vụ từng bước hình thành theo hướng hiện đại. Hạ tầng cấp, thoát nước được đầu tư khá tốt, từng bước khắc phục tình trạng ngập úng cục bộ vào mùa mưa. Hệ thống đường dây tải điện, trạm biến áp bảo đảm chất lượng cấp điện phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Hệ thống chiếu sáng đô thị đã được đầu tư và từng bước ngầm hóa. Đường chính khu vực nội thị được chiếu sáng 100% và ứng dụng công nghệ tiết kiệm điện; Chỉ tiêu cây xanh đô thị đạt 13m2/người, cây xanh đô thị được cải tạo, chỉnh trang phù hợp thổ nhưỡng và cảnh quan đô thị; Các dự án đường đô thị xây dựng mới có vĩa hè bảo đảm bố trí hệ thống hạ tầng kỹ thuật và cây xanh ven đường.

Hoàn thành đưa vào sử dụng Trung tâm chính trị hành chính tập trung tỉnh, lập quy hoạch chi tiết và hoàn thành đưa vào sử dụng công trình tạm Trung tâm hành chính huyện Bắc Tân Uyên và Bàu Bàng; nâng cấp, hiện đại hóa các Trung tâm hành chính cấp xã. Công trình dịch vụ - thương mại và nhà ở đã thu hút nhiều thành phần kinh tế đầu tư xây dựng theo quy hoạch: Trung tâm thương mại - dịch vụ hiện đại và mạng lưới chợ truyền thống được đầu tư mới và chỉnh trang phát triển rất nhanh đáp ứng yêu nhu cầu mua sắm, góp phần thúc đẩy thương mại dịch vụ phát triển và diện mạo đô thị ngày càng khang trang hơn.

 Tuy tình hình suy giảm kinh tế thời gian qua có tác động lớn đến thị trường bất động sản nhưng trên địa bàn tỉnh vẫn thu hút nhiều dự án nhà ở thương mại hiện đại và nhà ở xã hội triển khai đầu tư xây dựng góp phần tăng quỹ nhà ở cũng như đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp. Nhiều cơ sở vật chất giáo dục, y tế và văn hóa thể thao – du lịch được đầu tư với quy mô lớn, hiện đại mang tầm quốc tế từ nhiều nguồn lực. Hệ thống cơ sở vật chất giáo dục công được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, gắn liền với lầu hóa, đáp ứng tốt cho nhu cầu dạy và học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Tuyến y tế cơ sở được tập trung đầu tư, nhất là vùng phát triển công nghiệp. Cơ sở vật chất từ tuyến tỉnh đến cơ sở cơ bản đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân. Bên cạnh những mặt được trong quá trình đầu tư xây dựng và phát triển đô thị vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Một số dự án giao thông hướng ngoại như Mỹ Phước-Tân Vạn, ĐT 743, đường Quốc lộ 13 trên không chưa kết nối được với Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai, ùn tắt hay xảy ra vào giờ cao điểm trên quốc lộ,… Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội của tỉnh đầu tư chưa đồng bộ, chưa kịp thời và có mặt còn yếu như lĩnh vực y tế, nhà ở xã hội,…; Thoát nước đô thị, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị còn nhiều bất cập, hạ tầng đô thị như đường dây bưu chính viễn thông chậm được ngầm hóa, giăng mắc chưa an toàn, kém mỹ quan. Việc xác lập hành lang an toàn lưới điện - hành lang bảo vệ đường bộ còn hạn chế, nhất là các tuyến đường nội ô, xã hội hoá trong một số lĩnh vực còn yếu so với yêu cầu; một số công trình kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội quan trọng, trọng điểm triển khai thi công quá chậm. Chất lượng xây dựng một số công trình chưa tốt, công tác duy tu, bảo dưỡng công trình chưa được chú ý dẫn đến công trình mau xuống cấp,  phân cấp quản lý hạ tầng còn hạn chế, công tác kiểm tra, giám sát đầu tư chưa nghiêm, hiệu quả đầu tư chưa cao.

Nguyên nhân của những mặt tồn tại hạn chế nêu trên là do: Tốc độ tăng dân số cơ học trong những năm qua khá nhanh, gây sức ép lên hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh; Cơ chế, chính sách nhằm huy động các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế; Chất lượng công tác quy hoạch và quản lý sau quy hoạch chưa cao. Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong đầu tư xây dựng chưa hiệu quả; Trong đầu tư xây dựng cơ bản, vai trò của chủ đầu tư và sự phối hợp của các ngành, các cấp chưa tốt trong công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án, giải quyết những khó khăn, vướng mắc về đền bù, giải toả.

III.ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BÌNH DƯƠNG:

Theo Quyết định số 893/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 06 năm 2014 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020, bổ sung đến năm 2025 có Mục tiêu tổng quát:“Xây dựng Bình Dương trở thành một đô thị văn minh, hiện đại, trở thành một trong những đô thị phát triển kinh tế - xã hội của vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, có sức lan tỏa lớn, có tác động mạnh đến các tỉnh lân cận và vùng xung quanh; Bình Dương trở thành một đô thị trực thuộc Trung ương trước năm 2020…” Với mục tiêu đó thì đô thị Bình Dương phải được xây dựng theo hướng đô thị mới, văn minh, hiện đại, đô thị xanh. Là đô thị đi đầu trong quá trình phát triển, có tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, mạnh để đô thị thực sự là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa cho các tiểu vùng khác. Để hoàn thành nhiệm vụ trên cần phải thực hiện đồng bộ điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, Đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Tiếp tục sắp xếp củng cố về tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về đô thị nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, trật tự đô thị, văn minh đô thị trong quá trình phát triển. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch, thiết kế đô thị, quản lý quy hoạch - kiến trúc, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quản lý đô thị gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường thể chế, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực quản lý đô thị và phát triển đô thị, để kiểm soát sự phát triển đô thị Bình Dương theo hướng văn minh, hiện đại, có bản sắc trên nền tảng phát triển bền vững, hấp dẫn các nhà đầu tư, thuận lợi cho sản xuất và cuộc sống của nhân dân.

Tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng khu đô thị mới, trung tâm chính trị hành chính tập trung của tỉnh, quy hoạch chuyển đổi công năng một số khu cụm công nghiệp phía Nam gắn với đầu tư nâng cấp, chỉnh trang thành phố Thủ Dầu Một và các đô thị vệ tinh: Thuận An, Dĩ An,…. theo hướng văn minh, thân thiện với môi trường, sạch đẹp và nâng cao chất lượng sống của nhân dân, phấn đấu đến năm 2020 Bình Dương trở thành đô thị loại I và là thành phố trực thuộc Trung ương.

Tập trung xây dựng phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị và hệ thống dịch vụ đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất - kinh doanh và cải thiện dân sinh.

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội nhằm đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới, đặc biệt là nhà ở xã hội, giáo dục và y tế.

Quan tâm công tác quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn như điện, đường, trường trạm, công trình văn hóa, chợ nông thôn…. đạt tiêu chí nông thôn mới, rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị.

Tiếp tục phát huy và mở rộng các hình thức xã hội hóa đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng, có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án và khu đô thị và các chương trình đột phá để giải quyết vấn đề nhà ở cho nhân dân, giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, giảm ngập nước, giảm ô nhiễm môi trường.

Nâng cao chất lượng các dịch vụ đô thị theo hướng xã hội hóa.

Chủ động phối hợp với các bộ - ngành Trung ương và các địa phương  trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ kết nối với hệ thống quốc lộ, các tuyến đường vành đai, các trục đường nối với đầu mối giao thông của Vùng…Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; hỗ trợ nhà ở, việc làm và các điều kiện sinh sống cho dân cư các địa bàn đô thị hóa.

 Khai thác có hiệu quả quỹ đất đô thị để tạo nguồn vốn đầu tư. Tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư ngân sách, nguồn vốn ODA.

Có chính sách hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, chương trình nhà ở xã hội; công khai, minh bạch quy hoạch sử dụng đất và công bố quỹ đất, kiên quyết thu hồi các mặt bằng sử dụng không hiệu quả để phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển.

Tăng cường quản lý, ao, hồ, kênh, rạch phục vụ điều tiết nước và giao thông; bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái, gắn nội dung môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án đầu tư; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực tham gia bảo vệ môi trường.

Lượt người xem:  Views:   976
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật home

Tác giả

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Phân loại

Tin liên quan

Từ khóa

Audio

Tin liên quan

Từ khóa

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Quy Hoạch Kế Hoạch